Tiểu sử Hồ chí Minh
Dựa trên các tài liệu có được, xin ghi lại theo thứ tự năm:
Tài liệu đang dùng trích là từ nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_ref-53
Trích:
1890: sinh ra
1. Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên
Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895.
1895: Năm 1895,
Nguyễn Sinh Côn cùng cha mẹ và anh trai vào
Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên
Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học
cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh và một số ông giáo khác
[27].
1906: Năm
1906, Nguyễn Sinh Côn theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở
trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Tại đây, ông trải qua các niên khoá 1906-1907 lớp nhì và 1907-1908 lớp nhất. Trong kỳ thi primaire (tương đương tốt nghiệp tiểu học) năm 1908 - ông là một trong 10 học trò giỏi nhất của trường Pháp - Việt Đông Ba được thi vượt cấp vào hệ Thành chung trường
Quốc Học.
[28]
Nguyễn sinh Sắc
1907Theo nghiên cứu của học giả William J. Duiker, vào tháng 9 năm
1907, ông vào học lớp trung học đệ nhị niên tại trường
Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm
1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ
[29]. Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em
Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình.
[30] Tuy nhiên, theo tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (Centre des archives d'Outre-mer hay CAOM) ở
Pháp, Nguyễn Sinh Côn và được
nhận vào Quốc Học Huế vào ngày 7 tháng 8 năm 1908.
[17][18][20] Theo nhà nghiên cứu lịch sử Vũ Ngự Chiêu thì như vậy "không có việc Nguyễn Sinh Côn bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì tham gia vào cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế—cuộc biểu tình chống sưu dịch xảy ra ngày 9 tới 12 tháng 4 năm 1908; tức gần bốn tháng trước ngày trò Côn được nhận vào trường Quốc Học."
[17]1910Đầu năm
1910, Nguyễn Tất Thành đến
Phan Thiết. Ông dạy
chữ Hán và
chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại
trường Dục Thanh của Hội Liên Thành[31][32].
Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Nguyễn Tất Thành đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Ông tuy khâm phục
Đề Thám,
Phan Châu Trinh,
Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Theo quan điểm của ông, Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn Phan Bội Châu thì hy vọng
Đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau". Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình
[33].
1911Khoảng trước tháng 2 năm
1911, ông nghỉ dạy và vào
Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao Đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân.
[34][35][36] Ở đây, ông học được 3 tháng. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây
[37] để trở về giúp nhân dân Việt Nam
[38].
1911-19191911 Đi PhápNgày
5 tháng 6 năm
1911, từ
Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang
Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc
tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Ngày 6 tháng 7 năm 1911, sau hơn 1 tháng đi biển, tàu cập cảng
Marseilles, Pháp. Tại Marseilles, ông đã viết thư đến Tổng thống Pháp, xin được nhập học vào Trường Thuộc địa (École Coloniale), trường chuyên đào tạo các nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, với hy vọng "giúp ích cho Pháp". Thư yêu cầu của ông bị từ chối và được chuyển đến
Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế.
[39] 1912 Đi Hoa KỳỞ Pháp một thời gian rồi ông qua Hoa Kỳ. Sau khi ở
Hoa Kỳ một năm (cuối
1912-cuối
1913),
1913-1916 Đi Anhông đến nước
Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn, học tiếng Anh, và ở London cho đến cuối năm 1916
[40]. Một số tài liệu trong kho lưu trữ của Pháp và Nga cho biết trong thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã nghe Marcus Garvey diễn thuyết ở khu Harlem và tham khảo ý kiến của các nhà hoạt động vì nền độc lập của Triều Tiên.
[40] 1917Trỡ lại Pháp 1917-1923Cuối năm
1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm
1923.
[41]1919Tháng 2 năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
[42] Ngày
18 tháng 6 năm
1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang tới
Hội nghị Hòa bình Versailles bản
Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của
Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở
Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị
[43].
Bản yêu sách không yêu cầu độc lập cho Việt Nam, nhưng bao gồm quyền tự do và bình đẳng
[44]. Bản yêu sách này do một nhóm các nhà ái quốc Việt Nam sống ở Pháp, trong đó có
Phan Châu Trinh,
Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành, cùng viết, và được ký tên chung là
Nguyễn Ái Quốc[45]. Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc
[46] và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó
[47]. Thất bại của Hội nghị Versailles trong giải quyết các vấn đề thuộc địa đã đẩy niềm tin của Nguyễn Tất Thành sang chủ nghĩa cộng sản
[44].
Nguyễn Ái Quốc nói với các đại biểu của Đảng Cộng sản Pháp: "Tôi không hiểu bất cứ điều gì về chiến lược, thủ thuật hành động và tất cả những từ ngữ đao to búa lớn mà các ông dùng, nhưng tôi hiểu một điều rất đơn giản: Quốc tế Thứ 3 quan tâm rất nhiều tới vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của Quốc tế Thứ 3 hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa đang bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Các thành viên của Quốc tế thứ 2 không nói một từ về số phận của các vùng thuộc địa"
[44].
1920
Năm
1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lenin, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng
[48] vào
chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của
Đảng Xã hội Pháp tại
Tours (từ
25 đến
30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại biểu
Đông Dương của
Đảng Xã hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên của
Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Năm
1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra
Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị
áp bức đứng lên chống
chủ nghĩa đế quốc. Năm
1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo
Le Paria (Người cùng khổ), làm
chủ nhiệm kiêm
chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và
thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm "
Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm
1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Tấm biển đồng gắn tại nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17 Paris: "Tại đây, từ năm 1921-1923, Nguyễn Ái Quốc đã sống và chiến đấu vì quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức"
1922Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên vào năm 1922 tham gia Đại hội lần tư của Quốc tế Cộng sản, trở thành thành viên của Ban Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản
[44].
1923Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến
Moskva học tập tại
trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông được đào tạo chính quy về Chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang
[44].

Lev Trotsky và Nguyễn Ái Quốc năm 1924 ở Moskva
Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày
12 đến ngày
15 tháng 10năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Xem clip ở dưới:
Và:
https://www.youtube.com/watch?v=zquAhg61Na4
https://www.youtube.com/watch?v=kGy9WDJvcqg
Tại Đại hội lần thứ 5
Đệ Tam Quốc tế (họp từ ngày
17 tháng 6 đến ngày
8 tháng 7 năm
1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
1924Năm
1924, tại thành phố
Moskva, ông viết và nộp cho tổ chức
Đệ Tam Quốc tế một bản Báo cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào đấu tranh giai cấp tại Việt Nam có sự khác biệt với phong trào đấu tranh giai cấp bên Tây phương đương thời, ông có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ,... của Việt Nam như sau:
"Những địa chủ ở đây chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ (…). Không có vốn liếng gì lớn…, đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa","An Nam chưa bao giờ có tăng lữ…".
Nguyễn Ái Quốc
[49] Thời kỳ ở Trung Hoa (1924-1927)1924Sau khi học tại Liên Xô, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời
Liên Xô tới
Quảng Châu theo phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do
Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn đến giúp chính phủ
Trung Hoa Dân quốc của
Tưởng Giới Thạch, làm phiên dịch lấy tên là Lý Thụy.
Trong thời gian ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến
tư tưởng cách mạng ra vùng Đông Phương.
1925Theo đó, năm
1925, ông tập hợp Việt Kiều và thành lập tổ chức
Việt Nam Thanh
niên Cách mạng Đồng chí Hội ở
Quảng Châu(
Trung Quốc) để truyền bá
chủ nghĩa Marx-Lenin (thường được phiên âm là Mác–Lê-nin) vào Việt Nam. Cuốn Đường Kách mệnh, mà ông là tác giả, tập hợp các
bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng
Đồng chí Hội, được xuất bản năm
1927.
[50]Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở
Á Đông, do
Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của
Tôn Dật Tiên, làm hội
trưởng và ông làm bí thư. Tổ chức này sau đó trở thành Đảng Cộng sản Nam Hải
(the South Seas Communist party)
[44], tiền thân của một loạt các tổ chức cộng sản sau này, bao gồm có cả Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc cũng gửi một loạt người Việt
đi học trường quân sự của Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu, đồng thời tiến
hành một khóa đào tạo về khởi nghĩa vũ trang.
Tăng Tuyết Minh
Tăng Tuyết Minh là một phụ nữ Trung Quốc. Theo nghiên cứu của một số học giả
Trung Quốc, Pháp, và Hoa Kỳ thì bà đã kết hôn với Hồ Chí Minh khi đó có bí danh
là Lý Thụy vào năm 1926 và đã sống chung với ông được nửa năm cho đến khi
ông phải rời Trung ...
1927? Rời Trung HoaDo
Tưởng Giới Thạch khủng bố các nhà cách mạng cộng sản Trung Quốc và
Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi
Hương Cảng, rồi thoát sang Liên Xô theo
đường
sa mạc Gobi.
1927Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội
đồng của
Liên đoàn chống đế quốc từ ngày
9 đến ngày
12 tháng 12 năm 1927
tại
Brussel,
Bỉ.
1928Mùa thu
1928, ông từ
châu Âu đến
Xiêm La (Thái Lan), cải trang là một nhà sư
đầu trọc, với bí danh
Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho
Việt kiều tại
Xiêm, đồng thời xuất bản báo gửi về nước.
Theo http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-121/tang-tuyet-minh-nguoi-vo-
trung-quoc-cua-nguyen-ai-quoc
ông Hoàng Tranh, Quảng Châu viết:
Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc

Tăng tuyết Minh

Thư gửi Tăng Tuyết Minh
- bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M.
(Aix en Provence). Xuất xứ : Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au
Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.
- PHIÊN ÂM : Dữ muội tương biệt, chuyển thuấn niên dư, hoài niệm tình thâm,
bất ngôn tự hiểu. Tư nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã
ngưỡng/sở vọng. Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thuỵ.
- DỊCH : Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói
cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng
vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng :
Thuỵ (Bản dịch của
N.H. Thành)
(het phan trich dan của Hoàng Tranh)
1929Cuối năm
1929, ông rời khỏi Vương quốc Xiêm La và sang Trung Quốc.
[51]
1930
Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Xiêm La trong một thời gian ngắn, sau đó quay
lại Trung Hoa.
1931-1933Năm
1931, dưới tên giả là
Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị
nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở
Đông Dương. Tờ
L'Humanité số ra ngày
9 tháng 8 năm
1932 đưa tin Nguyễn Ái
Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố
cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát
người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương
[52].
Sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư
Frank Loseby[53], Tống
Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi
Thượng Hải rồi bí mật
quay trở lại Liên Xô.

Luật sư Loseby, người bảo vệ N.A.Q. ở Hồng Kông
1934
Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ hai
N.A.Q. khoảng năm 1934 khi ra tù, trở lại Moskva.
Ông đến Moskva vào
mùa xuân năm
1934. Với bí danh
Lin, Nguyễn Ái Quốc học
ở
Trường Quốc tế Lenin (
1934-
1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Đệ Tam Quốc tế
(từ ngày
25 tháng 7 đến ngày
20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của
ban thư ký Dalburo với tên Linov
[54]. Ông bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại Đảng Cộng
sản Đông Dương viết thư gửi Quốc Tế Cộng sản kết tội ông phải chịu trách nhiệm
chính về việc hơn 100 đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt
do việc ông biết Lâm Đức Thụ trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng.
[55] Ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền
Hương Cảng trả tự do
[56]. Quốc tế Cộng sản thành lập
Ban Thẩm tra vì nghi ngờ về sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc nhưng
không tìm ra chứng cứ nào cho thấy điều này, tiếp đó hồ sơ vụ việc Nguyễn Ái
Quốc đã được Ban Thẩm Tra quyết định hủy bỏ
[57]. Sau đó Nguyễn Ái Quốc
tham gia lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các Vấn đề Dân tộc và Thuộc
địa của Quốc tế
Cộng sản.
[58]Trong những năm 1931-1935, ông đã bị
Trần Phú và sau đó là
Hà Huy Tập phê
phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không
đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Đệ Tam Quốc tế
[59][60]. Trong một bức
thư kể cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế hay về phong trào cách mạng vô sản tại Đông
Dương được viết vào tháng 3 năm 1935, Nguyễn Ái Quốc bị phê phán nặng nề.
Bức thư này có ghi nhận về "tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với
chủ nghĩa cải lương,
chủ nghĩa duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc". Trong thư này cũng
có đoạn: "Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng
cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống
những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh
niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự
phê bình những khuyết điểm đã qua".
[49].
Sở dĩ có việc phê phán này là do vào thời điểm đó, Quốc tế Cộng sản, dưới sự
lãnh đạo của Stalin, đặt trọng tâm vào việc đấu tranh giai cấp để đi đến xây dựng
thành công chủ nghĩa cộng sản và không quan tâm nhiều đến các vấn đề giải
phóng thuộc địa. Trong khi đó, Nguyễn Ái Quốc lại đề cao chủ nghĩa dân tộc và
vấn đề giải phóng thuộc địa, ông cho rằng:
[49]"
Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi
dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho
những người "nhà quê" phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng
chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn
An Nam cạnh tranh với
người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho
những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua
Duy Tân mưu tính khởi
nghĩa năm 1917."
Nguyễn Ái Quốc
Trong giai đoạn này,
Trần Phú,
Lê Hồng Phong,
Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng Bí
thư Đảng Cộng sản Đông Dương còn Hồ Chí Minh chỉ đảm nhiệm công tác liên
lạc giữa Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản tại
Đông Nam Á.
[61]1938Năm
1938, ông trở lại
Trung Quốc. Trong vai thiếu tá
Bát Lộ quân Hồ Quang,
Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân
Quế Lâm, sau đó đi
Quý Dương,
Côn Minh rồi đến
Diên An, căn cứ đầu não của
Đảng Cộng sản
Trung Quốcvà
Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938 đến đầu 1939.
[62]1941 Trở về Việt NamÔng trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm
1941[63], ở tại hang Cốc Bó, bản
Pác Bó, tỉnh
Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện
cán bộ
[64], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Tài liệu huấn luyện
và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một
cuốn sách như vậy ông ghi "Việt Nam độc lập năm 1945"
[65]. Ông cho lập nhiều
hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phụ lão cứu quốc, hội nông dân
cứu quốc,...
Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, ông chủ trì Hội nghị lần thứ 8 (mở
rộng) của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Một trong những kết quả
của hội nghị này là nghị quyết về việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh
(
Việt Minh).
[66][67] 1942Lại sang Trung HoaTừ bị giam ở Trung Quốc cho tới thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ngày 13 tháng 8 năm 1942, ông lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh. Ông khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều"[68].
Các đồng chí của ông (Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh...) ở Việt Nam tưởng lầm là ông đã chết (sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ Cộng sản tên Cáp nghe và hiểu sai ngữ nghĩa)[70]. Họ thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông (Phạm Văn Đồng làm văn điếu) cũng như "mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm" (lời của Võ Nguyên Giáp). Vài tháng sau họ mới biết được tình hình thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về.[71] Ngày 25 tháng 10 năm 1943, Hội Quốc tế chống xâm lược ở Đông Dương gửi 2 bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, bức còn lại cho thống chế
Tưởng Giới Thạch đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh, đồng thời đại diện của Đảng cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh đã tiếp xúc bí mật với các sỹ quan
OSS và
SACO để gợi ý rằng có thể khiến Hồ Chí Minh hợp tác với phe Đồng Minh.
[72] Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân quốc để giải thoát Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và thuyết phục ông cộng tác với OSS.
[73] Cùng lúc đó tướng Trương Phát Khuê cũng gây áp lực để buộc ông Hồ hoạt động cho Quốc dân Đảng.
[73]1943
Hồ Chí Minh được trả tự do ngày
10 tháng 9 năm 1943, theo yêu cầu của Hoa Kỳ
[44]. Có nguồn khác nói rằng tướng
Trung Hoa Dân quốc là
Trương Phát Khuê quyết định trả tự do cho Hồ Chí Minh nhằm lợi dụng ông và một số chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật
[74]. Trương Phát Khuê hy vọng Hồ Chí Minh có thể thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong ở miền Nam Trung Quốc thành một khối thuần nhất thân Trung Quốc mà sự chia rẽ, chống đối về phương pháp tiến hành đấu tranh và sự tranh giành quyền lực giữa lãnh tụ của các nhóm này đã che lấp mất mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ đồng thời để chấn chỉnh
Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) do Trung Quốc đỡ đầu.
[75]
1944
Cuối tháng 9 năm
1944, ông trở về Việt Nam. Khi này các đồng chí của ông ở Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... đã quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh. Ông ngăn chặn thành công quyết định này
[76]. Thay vào đó, ông ra lệnh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn. Ông trực tiếp ra
chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính quy là đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, ông lại trở lại
Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945.
1945
Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Mỹ Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật
[74]. Theo Hồ Chí Minh, việc được tướng Chennault tiếp kiến được xem là một sự công nhận chính thức của Mỹ, là bằng chứng cho các đảng phái Quốc gia thấy Mỹ ủng hộ Việt Minh. Người Mỹ xem đây chỉ là một mưu mẹo của Hồ Chí Minh nhưng ông cũng đã đạt được kết quả.
[77]Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn sử dụng các tổ chức cách mạng người Việt vào các hoạt động quân sự chống Nhật tại Việt Nam, ông đã thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đồng thời chỉ thị cho Việt Minh làm tất cả để giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho OSS, tiến hành một số hoạt động tuyên truyền cho Trung Hoa Dân Quốc và OWI. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ
OSS (U.S Office of Strategic Services) cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
[78][79]
Tháng 7 năm 1945, trước khi Hội nghị
Tân Trào họp vào tháng 8 năm 1945, ông ốm nặng, tưởng không qua khỏi
[80]. Một đơn vị nhỏ OSS nhảy dù phía sau đường ranh giới Nhật Bản ở Việt Nam để tham gia tác chiến cùng Việt Minh. OSS tìm thấy Hồ Chí Minh trong tình trạng sốt rét nặng và gửi thông điệp đến trụ sở quân Mỹ ở Trung Quốc để yêu cầu cung cấp thuốc men sớm nhất có thể. Hai tuần sau đó, bác sĩ quân y tên là Paul Hogland
[81] đã đến. Những người Mỹ đã ở lại đó trong vòng hai tháng và có thể họ đã cứu sống ông.
[78][82][83][84][85]Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. --
Tạm dừng
--
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-121/tang-tuyet-minh-nguoi-vo-trung-quoc-
cua-nguyen-ai-quoc
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Sinh_S%E1%BA%AFc#Khu_di_t.
C3.ADch_Nguy.E1.BB.85n_Sinh_S.E1.BA.AFc